Tác dụng phụ của kẽm – tác hại của sử dụng thừa kẽm quá liều

Liều khuyến nghị hàng ngày cho mọi người đối với kẽm là không nên vượt quá 40mg, nếu sử dụng quá nhiều kẽm sẽ gây ra nhiều biến chứng, tác hại nguy hiểm (Ngộ độc kẽm)

Hiện tượng thừa kẽm

Nếu chúng ta bổ sung dư thừa kẽm (tác hại của kẽm) trong những khẩu phần ăn hằng ngày sẽ không dẫn đến ngộ độc kẽm. Nhưng nếu ta cung cấp quá nhiều những loại vitamin tổng hợp hay dùng những dụng cụ gia dụng có chứa kẽm thì sẽ có thể làm cho dễ xảy ra hiện tượng thừa kẽm.

Khi xảy ra tình trạng thừa kẽm, cơ thể sẽ có những biểu hiện như sau:

Buồn nôn

Khi bổ sung dư thừa kẽm sẽ dẫn đến tình trạng buồn nôn, nôn, ợ nhiều lần. Được biết trong thuốc chống cảm lạnh có chứa 225 mg kẽm nên khi sử dụng thuốc này nhằm phòng chống cảm lạnh thì sẽ gây cảm giác buồn nôn ngay tức khắc. Theo những nghiên cứu trên thế giới, cứ 47 người dùng 15 mg kẽm một ngày sẽ có nửa số người đó buồn nôn và nôn nhiều lần trong ngày.

Nôn sẽ giúp chúng ta giảm bớt thừa kẽm ra ngoài nhưng cũng để lại những biến chứng nghiêm trọng nên người bệnh cần đến cơ sở y tế để được xử lý kịp thời.

Đau bụng và tiêu chảy

Khi mắc phải hiện tượng thừa kẽm, người bệnh thường gặp những vấn đề về hệ tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy hoặc có cả táo bón là kết quả của hiện tượng này. Những đồ vật gia dụng như chất kết dính, hóa chất tẩy rửa có chứa chất kẽm clorua nên nếu bị ngộ độc kẽm từ những nguyên nhân này với lượng kẽm lớn hơn 20% thì sẽ gặp phải những vấn đề về tiêu hóa kể trên.

Đắng miệng thường xuyên

Đây là biểu hiện rõ rệt nhất của dư thừa kẽm. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chán ăn, mất vị giác hoặc ăn không ngon miệng.

Triệu chứng giống bệnh cúm

Uống nhiều kẽm trong ngày có thể gây ra những dấu hiệu như sốt, ớn lạnh, ho, nhức đầu. Nhưng những triệu chứng trên cũng là khả năng của ngộ độc khoáng chất khác nên cần phải phân biệt với chúng.

Cúm
Uống nhiều kẽm trong ngày có thể gây ra những dấu hiệu như sốt, ớn lạnh, ho, nhức đầu

Nồng độ cholesterol HDL thấp

Loại cholesterol tốt cho cơ thể là HDL với nhiệm vụ giảm nguy cơ bệnh tim mạch và ngăn chặn xơ vữa động mạch, với lượng khoảng lớn hơn 40mg/dL. Khi ta bổ sung 50mgr kẽm một ngày sẽ làm nồng độ HDL thấp đi và tăng lên lượng cholesterol xấu là LDL, kết quả là sẽ tăng khả năng bị những bệnh lý tim mạch.

Thiếu đồng

Theo nghiên cứu, đồng là chất cạnh tranh với kẽm để được hấp thụ vào ruột non của người. Khi ta sử dụng 40mg kẽm một ngày sẽ khiến đồng cũng không được hấp thụ vào ruột non. Do đó, cơ thể sẽ thiếu đồng và gây ra những bệnh lý liên quan đến thiếu máu nội bào và giảm bạch cầu trung tính.

Dễ bị nhiễm bệnh

Bổ sung thừa kẽm sẽ tạo ra những rối loạn về phản ứng miễn dịch trong cơ thể chúng ra. Những rối loạn này xảy ra là do hiện tượng thừa kẽm sẽ làm suy giảm chức năng của tế bào T, gây ảnh hưởng đến những phản ứng miễn dịch và cuối cùng cơ thể sẽ có nguy cơ mắc những bệnh xâm nhập.

Liều lượng sử dụng kẽm hợp lý hàng ngày

Việc sử dụng thừa hay thiếu kẽm đều gây ra những hậu quả khó lường, dưới đây là liều khuyến nghị của các chuyên gia y tế thế giới:

Lượng kẽm hàng ngày đối với trẻ em gái và phụ nữ:

  • từ 9 đến 13 tuổi: 8 miligam (mg)
  • từ 14 đến 18 tuổi: 9 mg
  • từ 14 đến 18 tuổi và mang thai: 12 mg
  • từ 14 đến 18 tuổi và cho con bú: 13 mg
  • từ 18 tuổi trở lên: 8 mg
  • từ 18 tuổi trở lên và mang thai: 11 mg
  • từ 18 tuổi trở lên và đang cho con bú: 12 mg

Lượng kẽm hàng ngày đối với nam giới:

  • từ 9 đến 13 tuổi: 8 mg
  • từ 14 đến 18 tuổi: 11 mg
  • từ 18 tuổi trở lên: 11 mg

Khi dùng bằng đường uống : Kẽm AN TOÀN TUYỆT ĐỐI đối với hầu hết người lớn khi dùng bằng đường uống với lượng không quá 40 mg mỗi ngày. Việc bổ sung kẽm thường xuyên không được khuyến khích nếu không có lời khuyên của chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Ở một số người, kẽm có thể gây buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, vị kim loại, tổn thương thận và dạ dày, và các tác dụng phụ khác. Kẽm CÓ THỂ AN TOÀN khi dùng bằng đường uống với liều lượng lớn hơn 40 mg mỗi ngày, đặc biệt khi những liều lượng này chỉ được dùng trong một thời gian ngắn. Có một số lo ngại rằng dùng liều cao hơn 40 mg mỗi ngày có thể làm giảm lượng đồng mà cơ thể hấp thụ. Giảm hấp thu đồng có thể gây thiếu máu. Uống một lượng kẽm cao LÀ KHÔNG AN TOÀN. Liều cao trên lượng khuyến cáo có thể gây sốt, ho, đau dạ dày, mệt mỏi và nhiều vấn đề khác. Uống hơn 100 mg kẽm bổ sung mỗi ngày hoặc dùng kẽm bổ sung trong 10 năm trở lên làm tăng gấp đôi nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Cũng có lo ngại rằng dùng một lượng lớn vitamin tổng hợp cộng với một loại thuốc bổ sung kẽm riêng biệt sẽ làm tăng nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt. Uống 450 mg kẽm trở lên mỗi ngày có thể gây ra các vấn đề về sắt trong máu. Liều đơn 10-30 gam kẽm có thể gây tử vong.

Khi bôi lên da : Kẽm AN TOÀN TUYỆT ĐỐI đối với hầu hết người lớn khi bôi lên da. Sử dụng kẽm trên vùng da bị gãy có thể gây bỏng, châm chích, ngứa và ngứa ran.

Khi hít phải : Kẽm CÓ THỂ KHÔNG AN TOÀNkhi hít vào bằng mũi, vì nó có thể làm mất khứu giác vĩnh viễn. Vào tháng 6 năm 2009, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã khuyến cáo người tiêu dùng không nên sử dụng một số loại thuốc xịt mũi có chứa kẽm (Zicam) sau khi nhận được hơn 100 báo cáo về việc mất khứu giác. Nhà sản xuất các loại thuốc xịt mũi chứa kẽm này cũng đã nhận được hàng trăm báo cáo về việc mất khứu giác từ những người đã sử dụng sản phẩm. Tránh sử dụng thuốc xịt mũi có chứa kẽm.

Đề phòng & Cảnh báo Đặc biệt:

Trẻ sơ sinh và trẻ em : Kẽm AN TOÀN TUYỆT ĐỐI khi dùng bằng đường uống với lượng khuyến cáo. Kẽm CÓ THỂ KHÔNG AN TOÀN khi sử dụng ở liều lượng cao.

Mang thai và cho con bú : Kẽm AN TOÀN TUYỆT ĐỐI đối với hầu hết phụ nữ mang thai và cho con bú khi được sử dụng với lượng khuyến cáo hàng ngày (RDA). Tuy nhiên, kẽm CÓ THỂ KHÔNG AN TOÀN khi phụ nữ cho con bú sử dụng với liều lượng cao và KHÔNG AN TOÀNkhi phụ nữ có thai dùng liều cao. Phụ nữ mang thai trên 18 tuổi không nên bổ sung quá 40 mg kẽm mỗi ngày; phụ nữ mang thai từ 14 đến 18 tuổi không nên dùng quá 34 mg mỗi ngày. Phụ nữ cho con bú trên 18 tuổi không nên dùng quá 40 mg kẽm mỗi ngày; phụ nữ cho con bú từ 14 đến 18 tuổi không nên dùng quá 34 mg mỗi ngày.

Nghiện rượu : Uống quá nhiều rượu trong thời gian dài có liên quan đến việc hấp thụ kẽm trong cơ thể kém.

Bệnh thận : Kẽm thấp trong chế độ ăn uống làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Ngoài ra, những người bị bệnh thận đang chạy thận nhân tạo có nguy cơ bị thiếu kẽm và có thể cần bổ sung kẽm.

Ăn chay: Chế độ ăn chay thường liên quan đến việc hấp thụ kẽm thấp hơn. Vì vậy, kiểu ăn kiêng này được coi là một yếu tố nguy cơ làm suy giảm kẽm. Nhưng cơ thể thích nghi trong thời gian dài. Nó trở nên hấp thụ kẽm tốt hơn và giảm thất thoát kẽm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *